Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Hoài cổ: Một nửa chuyến đi


Picture 131.jpg
"Một nửa cái bánh mỳ là Bánh mỳ, một nửa sự thật không phải là sự thật" - Ê Dốp; Nhưng thời Ê Dốp chưa có Bánh mỳ!

-         Thứ bảy tới 2 bố con sẽ đi Xuân Mai chơi.
-         Nếu mưa thì sao?
-         Mưa cũng đi.
Những “Đại gia” trong một gia đình cách địa chỉ kia 4 tỉnh đang bàn cho một chuyến đi đấy.         
Có thể cái địa danh Xuân Mai tôi và gia đình tôi chưa một lần được biết, nhưng cái đích và các thành viên trong gia đình ấy thì rất rõ: Tuổi thơ chúng tôi đã gắn chặt với nhau; suốt chặng đường mưu sinh luôn biết rõ về nhau.
          Sau những năm tháng, như quả cây phát tán tìm sự sống, giờ mới có điều kiện đến với nhau, thế thôi.
          .....
Thứ bảy, không mưa, nắng hoe vàng là khác. Tôi đi. Nhưng Cu Tý không đi được: Thứ 7 học thêm. Đừng coi thường cáithêm,có khi còn dài-nặng hơn cái chính, Giáo dục đương đại nó thế. Đã gọi Cu Tý-nhỏ thế, tránh cũng chẳng được cái to như cơ chế  kia, Tý thiệt vậy.
          Đúng ra chỉ cần 2 tuyến thì đến nơi, nhưng để thám thínhtuyến buýt nên vẽ thêm tuyến giữa: Long Biên-Hà Đông, xe  01.
Bến xe Hà Đông là nỗi kinh hoàng của những năm làm lính ở Vân Đình-Ứng Hoà. Mỗi lần mua vé, cửa ưu tiên hẳn hoi, (Giấy Công tác có đóng dấu Mũi tên đỏ: Hoả tốc) mà thằng trông ba lô ngoài chỉ nhìn thấy đôi giày cao cổ của thằng trong quẫy quẫy trên đầu đám người cứ ùng ục, sôi lên tưởng để vỡ mà không vỡ được. Cái ô cửa mua vé ngày ấy cũng quí như cái ghế của các quan, chẳng ai buông ra bao giờ.
          Đường số 6Cắt rừng đón đầu ...cả một tối phim đen trắng mới diễn xong cảnh anh Cù Chính Lan chạy bộ đuổi kịp và nhồi được quả lựu đạn diệt xe tăng Pháp! Nếu không hy sinh năm sau đó thì nay anh Cù cũng già rồi, nếu không, các kỳ SEA games, giải điền kinh và bóng đá nữa, cánh Thái, Ma, cả cánh Sin  dân số chỉ 4 triệu người đừng hòng ép được ta như hiện nay(!) Giờ tôi đi nhẹ tênh; cố tưởng tượng vòng cua của anh Cù đâu mà chẳng thấy, đường thẳng băng. Chỉ vẩn lên 2 địa danh: Yên Nghĩa và ngầm Mai Lĩnh. Yên Nghĩa là trận địa tên lửa của một D thuộc E257 (F361 cũ), nay không định vị được chỗ nào ở ven đê sông Đáy đây. Ngầm Mai Lĩnh xưa khó đi lắm, xe KPA của Liên Xô, loại xe to 12 tấn ở cánh cửa có in vòng chữ: Chế tạo tại CCCP: Chúng cháu cứ phá – qua còn khó, nay đã có 1 cây cầu to thay nó. Cả 2 địa điểm cách đây hơn 30 năm, khi mới nhập ngũ, cánh tân binh chúng tôi đã có những buổi vác đá làm đường, ngầm.
          Xuân Mai. Tý nữa thì bọn trẻ bây giờ đã có thêm tiết học lịch sử để trả lời câu hỏi:
- Dời Hoa Lư sang Thăng Long năm 1010, còn chuyển đô từ Thăng Long sang Xuân Mai năm nào?
-         Ở Thăng Long có con Rồng, còn ở Xuân Mai có con gì?
    Chắc vì không có đáp án cho các cuộc thi nên không chuyển (có thể xưa đuôi Rồng khi quẫy (thăng long) đã vẩy nước về phía tây, nên đây đã được gọi Hà Nội).
          Giờ là thị trấn Xuân Mai; không thấy nét Mường những năm 78 thế kỷ trước ở đất Lương Sơn (Bản Cò-Mỏ Chén) tôi đã thấy khi học Trường VH Bộ QP. Vạt sắn, màu thổ cẩm, rượu cần dân tộc đã lùi xa để bê tông hoá, để tồn tại quá độ: Bờ đất bao vỉa hè bê tông!
          Mai sau khảo cổ họ đào thấy xương chó là vẽ lại được Xuân Mai hôm nay ngay ấy mà, chó chạy rông khắp đường.
          Hơn 30 năm trước, 6 trai làng XY cùng học cấp 3 với nhau, chẳng ai định được rồi mình sẽ trú ngụ ở đâu. Chẳng ngờ rồi chỉ có mình Đ. đi một vòng, quay về làng cho vợ nuôi, còn 5 tên kia rải khắp nơi, mỗi tên mỗi tỉnh.
          Tôi với T gặp nhau lần đầu khi học lớp 3. Lớp học là cái trại lợn bỏ hoang ở xóm 7; khi đó hàng đàn máy bay Vỉ ruồi (như F4) bay ngay trên đầu để lao vào Hà Nội, chẳng biết bom Mỹ thả sẽ rơi chỗ nào; có lẽ để chia cái chết không dồn vào một chỗ nên trẻ xóm 2,4 học với xóm 6,7; chết bọn này thì vẫn còn trẻ xóm 1,3,5. Nhớ, T giữ sổ điểm và tôi được cô giáo chủ nhiệm rất trẻ Hoàng Thị Kim Đát có 2 sam tóc dài gần chấm gót giao cho cùng cộng điểm của lớp. Chẳng rõ T hay Quỉ hay Ma trong đám học trò khoanh 2 cái tên trong sổ điểm là tôi và Bốn vào với nhau, có chua thêm cạnh lề:2 vợ chồng, chuyện này cô Đát cứ tra lớp mãi. Sau này khi tôi đã là anh lính, tình cờ về phép đúng ngày cưới của Bốn; Tôi ngồi dự cưới nhìn Bốn trên bàn cô dâu cứ cười thầm: Tiên tri hồi lớp 3 chẳng có linh nghiệm gì!
          Đến lớp 4 lại tách lớp ra. Đến lớp 7 cuối cấp 2, cả xã có 2 lớp 7A và 7B, chúng tôi lại gặp nhau; là những tên ở tốp đầu về học trong trường nên vẫn có những buổi được phụ đạo chung để đi đấu đá. T có giữ không, chứ tôi hiện vẫn lưu được tờ giấy giới thiệu viết tay của thầy hiệu trưởng Dương Tất Hiệu để tự đi thi dưới huyện vào lớp 8 đặc biệt của Tỉnh để chuyên đi đấu đá, kiểu như lớp chọn bây giờ. Kết quả thi của tôi chẳng có gì, nhưng nhờ có tờ Giấy giới thiệu này, bất chợt gặp, tôi lại mang ra khoe với 2 đứa trẻ nhà tôi: Ngày xưa chúng tao học ác lắm (!); để làm oai!
          Học cấp 3. Lứa chúng tôi, 3 năm học thì ở 3 địa điểm, nhưng ngồi thì do cái khổ người tho thó, tôi và T hay được xếp ngồi bàn 1,sâu lắm là bàn 3; bao nhiêu chí choé, bao nhiêu cú huých cùi tay trong lớp ở cái vùng giáp ranh ấy đã xảy ra. Bởi tan lớp, T về bằng xe đạp, cái xe không bao giờ vệt bánh trùng nhau, cái càng trước bị vênh nên bánh trước không cùng mặt phẳng với bánh sau; không được đi bộ cùng tôi, Quế, Bạch để đùa rỡn suốt dọc đường, cuồnglắm.
          Cứ vậy, chẳng có chuyện thằng này sắp chết đuối (hay bị kẹt trong đám cháy) còn thằng kia lao vào cứu để có ân với nhau, nhưng tình bạn chúng tôi như đất gặp mưa dầm, đầm lắm.
Khi tôi đã nhập ngũ, tin tức bạn bè, quê hương nguồn nhiều ở T; có thư tôi nhận được T viết trong những ngày gian khó vác đá kiếm sống ở đê sông Đuống; T đang băn khoăn với cô gái nào đấy T đãthư cho tôi rõ; chẳng thế chuyện Vung- Nồi, T với L, nhà gái phải chiều tôi nhất, đoàn dạm đi đến nhà gái chỉ có 3 người (đạp xe phải gần 50 km), anh H, anh trai T thì đếm làm gì .
Cái khó ở mỗi đời người là tìm bạn. Nói ra nghe dã man (theo ngôn ngữ 9X) quá nhưng tìm bạn thực ra là tìm trong đó cái ghế, hoặc cái giường để dựa để giãi bày, hoặc cú huých để bật dậy. Ở T là những cánh thư nương nương (tựa) trong khi còn trong quân ngũ; những ngày tết gặp nhau cười hềnh hệch tính gì; bao quặn đau trước và sau mỗi tết của mỗi đời người phải có chỗ than thở chứ.
          Sau những đoạn trường ngoằn ngoèo của đời binh nghiệp, mỏi rồi, cạn hơi rồi, nay T đậu: Nghỉ hưu.
Có lẽ tôi có máu phiêu lưu pha chút giang hồ: Rất thích thăm bạn bè; thế mà giờ mới biết nhà T: Xuân Mai. Thời có nhiều điện thoại, mất cả cái hấp dẫn vì không còn huyền bí nữa.
          Nhớ tết năm nào (có lẽ năm 198...) chúng tôi đến nhà L, dạo đầu cho việc ghép cái vung với cái nồi. Miếng ngon nhớ lâu, nhớ nhất là món vịt ở nhà L, sau này nhờ Đại hội toàn quốc khoá 6 (thị trường bung ra) mới biết đó là Đặc sản vịt Vân Đình; nhớ nhì là 1 cô L nho nhỏ xinh xinh, thì giờ đây đã sắp thành bà ngoại, khổ người nữa, ngang lớn hơn xưa nhiều. Thời gian cũng dày ghê đấy nhỉ.
          Vào đời là việc khó, Ra đời cũng không phải chuyện dễ; nghỉ đấy mà không được nghỉ; cuộc sống nó đòi, đòi con người phải bơi tiếp; chơi cũng là một cuộc bơi. Sau này có đổi không, chứ hồi nhỏ T hay cả nể, cái cương cái nhu không đều; vun cho cây thì dám chứ chặt tỉa cái cây thì chưa chắc. Cái “Định hướng” để “chảy” ấy tôi thấy chưa ổn, T còn lúng túng lắm.
          Một chuyến đi; một dịp hàn huyên; bao cái chung ôn lại, toại nguyện cả rồi! Từ lúc mới bước vào nhà T con gà Tre nó còn kêu quang quác váng cả tai, bộ lông đẹp, phải đào bới hay bay nhảy nhiều để kiếm mồi mà cơ bắp khác hẳn bọn gà công nghiệp (thịt-xương rất giòn) giờ đã theo hơi men tận chốn nào rồi; dằng dai bằng kiếp con gà còn gì nữa. Biết đâu nhờ 1 nghị quyết nào đó món Gà Tre lại thành đặc sản nữa nên! Tạm biệt nhé!   

Picture 128.jpg

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét